Các tiềm năng phát triển năng lượng xanh ở Việt Nam

0
136

Thế kỷ 20 là thế kỷ của cuộc cách mạng công nghiệp. Trong cuộc cách mạng này tiêu tốn một khối lượng năng lượng hóa thạch khổng lồ. Và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo của nhân loại. Nó làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường. Gây ra hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên, gây ra biến đổi khí hậu và các thảm họa từ thiên nhiên. Chính vì vậy toàn thế giới thấy được cần phải có một cuộc cách mạng thay đổi về tư duy và nhận thức trong phát triển để bảo vệ trái đất.

 

Rất nhiều nguồn năng lượng xanh có trên trái đất

Rất nhiều nước đã biết bảo vệ môi trường sống để tồn tại, phát triển. Trong thế kỷ 21 này, rất nhiều nước đã có cuộc cách mạng tất yếu đó là cuộc cách mạng về năng lượng tái tạo, nhiên liệu mới, tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Mục tiêu đó gọi tắt là “năng lượng xanh”. Vậy thì các tiền năng phát triển năng lượng xanh ở Việt Nam là gì?

I-Tiềm năng phát triển năng lượng địa nhiệt

Theo các nhà khoa học, khai thác, phát triển năng lượng địa nhiệt có hiệu quả về kinh tế cao. Có khả năng thực hiện và thân thiện với môi trường… Thì Việt Nam có tiềm năng địa nhiệt đáng kể và có thể phát triển các nhà máy điện địa nhiệt. Điều này sẽ mang lại một nguồn năng lượng mới, những cơ hội mới, nâng cao năng lực, trình độ cho các nhà khoa học, tạo ra nhiều công ăn việc làm và góp phần xây dựng nền kinh tế xanh mà Việt Nam đang hướng đến.

Khai thác năng lượng địa nhiệt có hiệu quả về kinh tế, có khả năng thực hiện và thân thiện với môi trường ở Việt Nam. Nguồn năng lượng này ở nước ta còn có ưu điểm là phân bổ đều trên khắp lãnh thổ cả nước. Nên cho phép sử dụng rộng rãi ở hầu hết các địa phương. Mặc dù còn nhiều thách thức về kinh tế, kỹ thuật, nguồn vốn đầu tư… nhưng việc khai thác địa nhiệt tại Việt Nam đã và sẽ mở ra triển vọng khai thác, ứng dụng nguồn năng lượng hữu ích này rộng rãi vào đời sống kinh tế xã hội của đất nước, vừa giải quyết được bài toán kinh tế vừa thân thiện với môi trường…

Tuy nguồn địa nhiệt chưa được điều tra và tính toán kỹ. Tuy nhiên, với số liệu điều tra và đánh giá gần đây nhất cho thấy tiềm năng điện địa nhiệt ở Việt Nam có thể khai thác đến trên 300MW. Khu vực có khả năng khai thác hiệu quả là miền Trung.

Như vậy, hiện tại ở nước ta có 5 loại năng lượng tái tạo đã được khai thác để sản xuất điện. Theo thống kê chưa đầy đủ, tổng công suất lắp đặt khoảng 1.215 MW. Các nguồn năng lượng tái tạo đang được khai thác là: thuỷ điện nhỏ (1000 MW), sinh khối (152 MW), rác thải sinh hoạt (8 MW), mặt trời (3 MW) và gió (52 MW), Thực trạng khai khác năng lượng tái tạo còn rất nhỏ so với tiềm năng chiếm khoảng 3,4%. Trong khi đó theo Quy hoạch điện VII, chỉ tiêu được đặt ra là tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ các nguồn NLTT chiếm 3,5% năm 2010 lên 4,5% và 6% vào năm 2020 và năm 2030. Với bối cảnh hiện nay và dự báo trong thời gian tới cần có giải pháp cụ thể để nâng mức phát triển năng lượng tái tạo cao hơn.

II- Tiềm năng phát triển Thủy điện

Nhìn vào cơ cấu đóng góp trong ngành điện ở Việt Nam. Thì thủy điện vẫn đang chiếm tỷ trọng rất lớn. Tuy nhiên, sản lượng điện từ các nhà máy thủy điện thường không ổn định. Bởi vì phụ thuộc rất nhiều vào lưu lượng nước đổ về. Cũng như lượng nước tích ở các hồ thủy điện.

Phát triển năng lượng thủy điện

 Với thủy điện nhỏ, thời gian qua đã khai thác khoảng 50% tiềm năng, các nguồn còn lại ở các vùng sâu, vùng xa, khu vực không thuận lợi, giá khai thác cao. Theo các báo cáo đánh giá gần đây nhất thì hiện nay có trên 1.000 địa điểm đã được xác định có tiềm năng phát triển thủy điện nhỏ, qui mô từ 100kW tới 30MW với tổng công suất đặt trên 7.000MW, các vị trí này tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

III- Tiềm năng phát triển Năng lượng gió

Việt Nam nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài. Đất nước Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng biển Đông Việt Nam. Và các vùng biển lân cận.  Cho thấy gió tại biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa.

Trong chương trình đánh giá về năng lượng cho châu Á, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á. Thì đất nước Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất với tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW. Tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020.

Tất nhiên, là để chuyển từ tiềm năng lý thuyết thành tiềm năng thực tế. Để có thể khai thác, đến tiềm năng kỹ thuật, và cuối cùng, thành tiềm năng kinh tế là cả một câu chuyện dài. Tuy nhiên điều đó không ngăn cản việc chúng ta xem xét một cách thấu đáo tiềm năng to lớn về năng lượng gió ở Việt Nam.

IV- Tiền năng mới – Năng lượng mặt trời

Việt Nam được xem là một quốc gia có tiềm năng rất lớn về năng lượng mặt trời. Đặc biệt ở các vùng miền trung và miền nam của đất nước. Theo ước tính với cường độ bức xạ mặt trời trung bình khoảng 5 kWh/m2. Trong khi đó cường độ bức xạ mặt trời lại thấp hơn ở các vùng phía Bắc, ước tính khoảng 4 kWh/m2 do điều kiện thời tiết với trời nhiều mây và mưa phùn vào mùa đông và mùa xuân.

Việt Nam với bức xạ mặt trời trung bình 230-250 kcal/cm2 theo hướng tăng dần về phía Nam chiếm khoảng 2.000 – 5.000 giờ trên năm, với ước tính tiềm năng lý thuyết khoảng 43,9 tỷ TOE.

Năng lượng mặt trời ở Việt Nam có sẵn quanh năm, khá ổn định và phân bố rộng rãi trên các vùng miền khác nhau của đất nước. Đặc biệt, số ngày nắng trung bình trên các tỉnh của miền trung và miền nam là khoảng 300 ngày/năm. Năng lượng mặt trời được khai thác sử dụng chủ yếu cho các mục đích như: sản xuất điện và cung cấp nhiệt. Bởi vậy năng lượn xanh ở Việt Nam như năng lượng mặt trời sẽ giúp cung cấp điện cho Việt Nam trong tương lai tới.

V- Tiềm năng mới Năng lượng sinh khối

Với lợi thế một đất nước với nền nông nghiệp. Việt Nam có nguồn sinh khối lớn và đa dạng từ gỗ củi, trấu, bã cà phê, rơm rạ và bã mía. Phế phẩm nông nghiệp rất phong phú dồi dào ở Vùng đồng bằng sông Mê kông, chiếm khoảng 50% tổng sản lượng phế phẩm nông nghiệp toàn quốc và vùng đồng bằng sông Hồng với 15% tổng sản lượng toàn quốc.

 Các nguồn sinh khối khác bao gồm sản phẩm từ gỗ, chất thải đô thị và chất thải gia súc. Các sản phẩm và phế phẩm từ gỗ tại các công ty sản xuất chế biến gỗ có nguồn gốc từ rừng tự nhiên hoặc rừng trồng và gỗ nhập khẩu. Hiện nay, 90% sản lượng sinh khối được dùng để đun nấu trong khi chỉ có 2% được dùng làm phân bón hữu cơ và phân bón vi sinh.

Nguồn phế phẩm chăn nuôi trồng trọt, bùn và bã mía từ các nhà máy đường); 0.5% được sử dụng để trồng nấm và khoảng 7.5% chưa được sử dụng (phế phẩm từ chế biến thức ăn được chọn trong khi rơm rạ, bã mía và vỏ cà phê thì được đốt. Sinh khối được sử dụng ở hai lĩnh vực chính là sản xuất nhiệt và sản xuất điện.

Ở các vùng nông thôn, năng lượng sinh khối vẫn là nguồn nhiên liệu chính để đun nấu cho hơn 70% dân số nông thôn. Đây cũng là nguồn nhiên liệu truyền thống cho nhiều nhà máy sản xuất tại địa phương như sản xuất thực phẩm, mỹ nghệ, gạch, sứ và gốm.

Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu năng lượng, ứng dụng sinh khối phù hợp còn giúp giảm thiểu phát thải nhà kính, giảm thiểu những tổn hại đến sức khoẻ do việc đun đốt củi và than, giảm nghèo và cải thiện tình hình vệ sinh.

Đứng trước những tiềm năng của năng lương xanh ở Việt Nam. Đất nước cần tiếp tục hoàn chỉnh các khung chính sách pháp lý, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của bộ máy tổ chức và phương thức quản lý trong lĩnh vực điện gió. Tổ chức nghiên cứu, sửa đổi cơ chế hỗ trợ phát triển các tiềm năng. Để đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh xanh-sạch -đẹp.

Nếu có thắc mắc hay ý kiến đóng góp, bổ sung xin vui lòng liên hệ trực tiếp:

Công ty Cổ phần Sawa Việt Nam – TTTM GoldendLand, 275 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội – Hotline: 19002296

Gửi phản hồi

Vui lòng nhập nhận xét của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây